đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP)

Tin liên quan

Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP)

Hợp đồng PPP là việc nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên  cơ sở Hợp đồng dự án.

1. Căn cứ pháp lý:

– Luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực ngày 1/7/2015

– Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật đầu tư

2. Nội dung bài viết

2.1. Một số đặc điểm của Hợp đồng PPP:

– Chủ thể kí kết hợp đồng: Trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định, chủ thể kí kết hợp đồng bao gồm một bên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giới hạn phần vốn góp của nhà nước không vượt quá 30% tổng mức đầu tư của Dự án và một bên là tư nhân, khi thực hiện dự án phải thành lập Doanh nghiệp dự án;

– Đối tượng của Hợp đồng đầu tư: Các dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công;

– Nội dung của Hợp đồng quy định về mục đích, phạm vi và nội dung vụ án, quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thiết kế, xây dựng, kinh doanh, quản lí công trình dự án;

– Một số lợi ích của Hợp đồng: Khi kí kết hợp đồng PPP, nhà đầu tư sẽ được hưởng lợi ích phát sinh từ chính việc kinh doanh công trình đó. Những lợi ích bao gồm: lợi ích từ dịch vụ công cộng được cung cấp chất lượng cao, tận dụng được nguồn lực tài chính và quản lý từ tư nhân, đảm bảo tốt hơn cho người dân.

     Hợp đồng PPP là một chế định hoàn toàn mới trong pháp luật Việt Nam, khi hiểu được lợi thế của hoạt động này, Nhà đầu tư sẽ có những quyết định phù hợp cho hoạt động kinh doanh của mình.

2.2. Hình thức thực hiện mô hình PPP: Có 5 hình thức phổ biến:

– Mô hình nhượng quyền khai thác (Franchise) là hình thức mà theo đó cơ sở hạ tầng được nhà nước xây dựng và sở hữu nhưng giao (thường là thông qua đấu giá) cho tư nhân vận hành và khai thác.
– Mô hình thiết kế – xây dựng – tài trợ – vận hành DBFO (Design- Build – Finance – Operate), khu vực tư nhân sẽ đứng ra xây dựng, tài trợ và vận hành công trình nhưng nó vẫn thuộc sở hữu nhà nước.

– Mô hình xây dựng – vận hành – chuyển giao BOT (Build – Operate – Transfer) là hình thức do công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng và vận hành công trình trong một thời gian nhất định sau đó chuyển giao toàn bộ cho nhà nước.

– Mô hình BTO (xây dựng – chuyển giao – vận hành) là mô hình sau khi xây dựng xong thì chuyển giao ngay cho nhà nước sỏ hữu nhưng công ty thực hiện dự án vẫn giữ quyền khai thác công trình.
– Mô hình xây dựng – sở hữu – vận hành BOO (Build – Own – Operate) là hình thức công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng công trình, sở hữu và vận hành công trình.

2.3. Điều kiện để thực hiện dự án đầu tư theo hình thức PPP

     Căn cứ theo Nghị định số 15/2015/NĐ-CP Nghị định về đầu tư theo hình thức đối tác công tư thì dự án được lựa chọn thực hiện theo hình thức đối tác công tư phải đáp ứng đủ 5 điều kiện sau:

– Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương;

– Phù hợp với lĩnh vực đầu tư theo quy định;

– Có khả năng thu hút và tiếp nhận nguồn vốn thương mại, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nhà đầu tư;

– Có khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ liên tục, ổn định, đạt chất lượng đáp ứng nhu cầu của người sử dụng;

– Có tổng vốn đầu tư từ 20 tỷ đồng trở lên, trừ dự án đầu tư theo hợp đồng O&M và dự án công trình kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ phát triển liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

    Dự án chưa có trong quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương phải được bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét bổ sung theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
    Dự án đáp ứng các điều kiện quy định nêu trên có khả năng thu hồi vốn từ hoạt động kinh doanh được ưu tiên lựa chọn.
    Ngoài ra, nghị định cũng quy định cụ thể vốn chủ sở hữu và vốn huy động của nhà đầu tư.
    Theo đó, nhà đầu tư chịu trách nhiệm góp vốn chủ sở hữu và huy động các nguồn vốn khác để thực hiện dự án theo thỏa thuận tại hợp đồng dự án.
     Vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án không tính vào tổng vốn đầu tư để xác định tỷ lệ vốn chủ sở hữu. Dự án khác do nhà đầu tư thực hiện để thu hồi vốn đã đầu tư vào công trình dự án BT phải đáp ứng yêu cầu về vốn chủ sở hữu (nếu có) theo quy định của pháp luật.

     Hướng Dẫn Luật hy vọng những gì chúng tôi tư vấn nêu trên sẽ giúp quý khách hàng lựa chọn được phương án thích hợp để giải quyết vấn đề của mình. Còn bất cứ vướng mắc gì quý khách vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 24/7: 1900888 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp và để yêu cầu cung cấp dịch vụ.     

Các bài viết tham khảo:

Luật sư tư vấn đầu tư

Kiến thức Luật đầu tư

Hỏi đáp Luật đầu tư

Văn bản Luật đầu tư