Thủ tục giải quyết tranh chấp hành chính theo quy định pháp luật hiện hành

Tin liên quan

huongdanluat.com

huongdanluat.com

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÀNH CHÍNH

Tranh chấp hành chính là một dạng tranh chấp xảy ra thường xuyên với số lượng không hề vô cùng lớn và thủ tục giải quyết tranh chấp hành chính cũng là một nội dung khá phức tạp. Nhằm cung cấp đến quý khách hàng những dịch vụ tốt nhất, Hướng Dẫn Luật xin đưa ra một số kiến thức tổng hợp về thủ tục giải quyết tranh chấp hành chính theo quy định của pháp luật hiện hành.

1. Căn cứ pháp lý:
+ Luật tố tụng hành chính 2010;
+ Nghị định 02/2011/NQ-HĐTP về Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính ngày 29 tháng 07 năm 2011.
2. Nội dung bài viết:
2.1/ Một vài nét về quan điểm tranh chấp hành chính của các hệ thống pháp luật trên thế giới.
Trên thế giới, tại các nước thuộc hệ thống Common Law không có sự phân biệt rõ ràng giữa công pháp và tư pháp, do đó các tranh chấp hành chính cũng không được xác định rõ là phát sinh trong lĩnh vực nào. Ở các nước này, các tranh chấp hành chính trước hết được giải quyết bởi cơ chế giải quyết khiếu nại do cơ quan hành chính đã ban hành quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính bị khiếu nại. Trường hợp người dân không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án. Tuy nhiên các nước này không thành lập hệ thống Tòa án chuyên trách mà các tranh chấp hành chính được giải quyết bởi hệ thống Tòa án thường, theo đó thủ tục tố tụng để giải quyết các tranh chấp hành chính này cũng là thủ tục tố tụng dân sự.
Đối với các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law, có sự phân định rạch ròi giữa luật công và luật tư, do đó các tranh chấp phát sinh cũng được xác định rõ thuộc lĩnh vực luật nào. Tranh chấp hành chính là tranh chấp nảy sinh trong lĩnh vực luật công, do đó được giải quyết theo một cơ chế khác so với các tranh chấp trong lĩnh vực luật tư. Ở các nước này, các tranh chấp hành chính có thể được giải quyết bằng con đường giải quyết khiếu nại (cơ chế hành chính) bởi các cơ quan đã ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bị khiếu nại. Vậy theo quan điểm của các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật này thì tài phán hành chính là hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức với các cơ quan công quyền; đồng thời có một hệ thống Tòa án hành chính được thành lập để giải quyết các tranh chấp này.
Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng không có sự phân định rạch ròi giữa công pháp và tư pháp, các tranh chấp hành chính được giải quyết theo cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính.
Ở Việt Nam, trước khi Tòa hành chính được thành lập (01-7-1996) thì vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan công quyền đã được quan tâm ở mức độ nhất định. Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng của mô hình hệ thống pháp luật cũng như tư tưởng lập pháp xã hội chủ nghĩa trước đây nên trong thời kỳ này pháp luật nước ta chỉ thừa nhận các tranh chấp hành chính như những khiếu nại thông thường, được giải quyết theo thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính mà không được giải quyết theo thủ tục tố tụng tại Tòa án.
Ngày 28/10/1995, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, khoá IX, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân, trong đó Toà án nhân dân được trao chức năng xét xử các vụ án hành chính. Theo đó hệ thống Toà hành chính đã được thành lập bên cạnh các Toà chuyên trách khác của Tòa án nhân dân. Đây có thể coi là sự chuyển biến căn bản về tư tưởng lập pháp trong việc giải quyết các tranh chấp hành chính ở nước ta, là dấu mốc đánh dấu sự ra đời của ngành luật hành chính ở Việt Nam. Như vậy mô hình tài phán hành chính ở Việt Nam không theo mô hình của các quốc gia thuộc hệ thống Common Law, cũng không hoàn toàn giống các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law. Chúng ta thừa nhận cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính bằng thủ tục tố tụng, tuy nhiên không thành lập một hệ thống Tòa án hành chính độc lập mà thành lập các Tòa hành chính với tư cách là tòa chuyên trách thuộc hệ thống Tòa án nhân dân.

2.2/ Khái niệm tranh chấp hành chính?
Theo tinh thần của Luật tố tụng hành chính 2010 thì: các tranh chấp hành chính là các tranh chấp phát sinh giữa một bên là cơ quan hành chính và bên kia là các cá nhân hoặc doanh nghiệp. Đặc trưng trong mối quan hệ này là cơ quan hành chính nắm giữ và thực hiện quyền lực nhà nước (quyền lực công) và có quyền ra các quyết định mà bên kia (cá nhân, doanh nghiệp…) phải thực hiện.

2.3/ Người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
– Người khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri.
Cụ thể, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện trong những trường hợp:
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó.
Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.
Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với cách giải quyết khiếu nại.
– Người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện.
– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận hoặc được Toà án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

2.4/ Thời hiệu khởi kiện?
Căn cứ Điều 104 Luật tố tụng hành chính 2011 quy định: Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính được chia làm 3 trường hợp sau:
a) 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
b) 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
c) Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.
(Thời hiệu khởi kiện được hướng dẫn cụ thể tại Điều 12 Chương II tại Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)

2.5/ Trình tự giải quyết tranh chấp hành chính?
2.5.1, Nộp đơn khởi kiện và nội dung Đơn khởi kiện:
Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ án hành chính khi cóđơn khởi kiện của người khởi kiện. Vì vậy, bước đầu tiên trong quá trình giải quyết vụ án hành chính là người có quyền khởi kiện nộp đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:
-Ngày, tháng, năm làm đơn;
-Toà án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính;
-Tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện;
-Nội dung quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, nội dung giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri hoặc tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính;
-Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có);
-Các yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết;
-Cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
2.5.2, Địa điểm nộp đơn khởi kiện:
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo đến Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng 02 phương thức sau đây: Nộp trực tiếp tại Toà án, hoặc Gửi qua bưu điện. Trong đó, ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Toà án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.

2.5.3, Xử lý đơn khởi kiện
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện, tài liệu thì xem xét và thực hiện một trong các thủ tục sau đây :
– Yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung Đơn khởi kiện nếu Đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định nêu trên trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án và tiến hành thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyêt
– Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;
– Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu thuộc một trong các trường hợp trả lại Đơn khởi kiện.
2.5.4, Nộp tạm ứng án phí
Người khởi kiện phải nộp số tiền nộp tạm ứng án phí trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp tạm ứng án phí của Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí
2.5.5, Thụ lý vụ án
Sau khi nhận được biên lai nộp tạm ứng án phí đã nộp trong thời hạn quy định (Trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết việc thụ lý) thì Tòa án thụ lý vụ án và giải quyết theo trình tự được quy định cụ thể từ chương IX đến chương XI tại Luật tố tụng hành chính và các nghị định hướng dẫn.
2.5.6, Kết quả giải quyết vụ án hành chính:
Sau khi thụ lý và tiến hành giải quyết theo đúng trình tự thủ tục luật định thì Tòa án thụ lý vụ án hành chính có thể ra một trong các loại văn bản sau:
– Là Bản án hành chính (sơ thẩm) nếu vụ việc được đưa ra xét xử;
– Là Quyết định tạm đình chỉ vụ án nếu vụ án thuộc các trường hợp quy định tại Điều 118 Luật tố tụng hành chính;
– Là Quyết định đình chỉ vụ án nếu thuộc các trường hợp đình chỉ vụ án quy định tại Điều 120 Luật tố tụng hành chính.

 Hướng Dẫn Luật hy vọng những gì chúng tôi tư vấn nêu trên sẽ giúp quý khách hàng lựa chọn được phương án thích hợp để giải quyết vấn đề của mình. Còn bất cứ vướng mắc gì quý khách vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 24/7: 1900888 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp và để yêu cầu cung cấp dịch vụ.

Luật Dân an chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý khách hàng và rất mong nhận được ý kiến đóng góp của tất cả quý khách hàng và người dân trên cả nước để chúng tôi hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ của mình.

Trân trọng cảm ơn!

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN DÂN AN

Địa chỉ: lô C34 khu đấu giá Ngô Thì Nhậm, phường Hà cầu, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Email: lawdanan@gmail.com – website: huongdanluat.com

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn qua Tổng đài;

Luật sư tư vấn Sở hữu trí tuệ;

Luật sư tư vấn Dân sự