Thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính

Tin liên quan

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH

Khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam đã và đang là vấn đề được Đảng, Nhà nước, xã hội và giới nghiên cứu khoa học pháp lí đặc biệt quan tâm. Trong đó, thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính luôn được xác định là vấn đề trọng tâm của cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính nhằm bảo đảm một cách tối đa quyền khiếu kiện hành chính của cá nhân, tổ chức. Nhằm giúp quý khách hàng có một cái nhìn cụ thể, rõ ràng và đầy đủ về thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính, Hướng Dẫn Luật xin đưa ra một số phân tích như sau:

Cơ sở pháp lý:

+ Luật khiếu nại số 02/2011/QH13;

+ Nghị định số 75/2012/NĐ-CP của Chính phủ về Quy định chi tiết một số điều của Luật khiếu nại.

Nội dung tư vấn:

Qua nghiên cứu thực tiễn quy định và thực hiện thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính, có thể hiểu thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính là phạm vi thực hiện quyền hành pháp của chủ thể quản lý hành chính nhà nước, được pháp luật hành chính quy định để giải quyết các tranh chấp hành chính theo thủ tục hành chính. Như thế, giải quyết khiếu nại hành chính là phương thức giải quyết tranh chấp hành chính có tính chất thuần túy hành pháp. Do đó, nhược điểm của thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính là không đảm bảo được sự khách quan và bình đẳng giữa người khiếu nại và người bị khiếu nại; không đảm bảo được tính “chuyên trách” trong quá trình giải quyết tranh chấp hành chính. Ngược lại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính lại có khá nhiều ưu điểm cần phát huy, như: có khả năng giải quyết nhanh chóng, toàn diện tranh chấp hành chính ở cả phương diện hợp pháp và hợp lý; góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý hành chính, góp phần tăng cường tính tự chủ và tự chiụ trách nhiệm của nền hành chính quốc gia.

Căn cứ Mục 1, Chương III Luật khiếu nại 2011 thẩm quyền giải quyết khiếu nại được quy định dưới hình thức liệt kê từ Điều 17 đến Điều 26, thẩm quyền giải quyết khiếu nại thuộc về những chủ thể sau: Chủ tịch ủy ban nhân dân xã phường thị trấn và thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh; Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện; Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương; Giám đốc sở và cấp tương đương; Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, thuộc cơ quan bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ; Bộ trưởng; Tổng thanh tra Chính phủ; Chánh thanh tra các cấp; Thủ tướng Chính phủ.

Cụ thể:

1, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp.

2, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.

3, Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.

4, Giám đốc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.

5, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.

6, Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.

7, Bộ trưởng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nội dung thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của bộ, ngành đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.

8, Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; xử lý các kiến nghị của Tổng Thanh tra Chính phủ quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật khiếu nại; chỉ đạo, xử lý tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

9, Đối với Tổng thanh tra Chính phủ có thẩm quyền giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật;   Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm.

10,  Thẩm quyền của Chánh thanh tra các cấp có thẩm quyền giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao; Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm.

Từ những quy định trên, xét thấy việc phân cấp thẩm quyền giải quyết khiếu nại ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau với những nội dung, cách thức và quan điểm lập pháp không thống nhất, cụ thể:

-Việc phân cấp thẩm quyền giải quyết khiếu nại thiếu nhất quán, không triệt để và bất hợp lý không những có nguy cơ làm gia tăng áp lực công việc giải quyết tranh chấp hành chính cho nên hành chính quốc gia mà còn có khả năng hạn chế quyền khiếu nại hành chính của đối tượng quản lý hành chính nhà nước.

Ví dụ như: Giám đốc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu quyết định hành chính, hành vi hành chính của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp, nhưng Luật lại không quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai quyết định hành chính, hành vi hành chính của cán bộ, công chức do Giám đôc sở và cấp tương đương thuộc về ai?

Hoặc trường hợp: Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được khiếu nại lần hai và do Bộ trưởng giải quyết khiếu nại, Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.  Nhưng, đối với khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, sẽ do Bộ trưởng thụ lý giải quyết lần đầu, Luật không quy định trường hợp khiếu nại lần hai thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc về chủ thể nào? Cũng không quy định cơ chế lựa chọn quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nếu người khởi kiện không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng.

-Pháp luật hiện hành không quy định thẩm quyền trực tiếp giải quyết khiếu nại cho Thủ tướng chính phủ, mà chỉ trao quyền cho Thủ tướng “chỉ đạo, xử lý tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” . Trong khi Luật khiếu nại, tố cáo 2004 còn có quy định nhiều hơn đối với thẩm quyền của Thủ tướng chính phủ: “Xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” (Khoản 3 Điều 28 Luật khiếu nại, tố cáo sửa đổi bổ sung 2004). Việc quy định như vậy tại Luật khiếu nại 2011, đã làm vô hiệu quyền khiếu nại của đối tượng quản lí hành chính nhà nước đối với việc thực thi quyền hành pháp của Thủ tướng Chính phủ và là nguyên nhân chính của những hạn chế trong phân cấp thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.

Hướng Dẫn Luật hy vọng những gì chúng tôi tư vấn nêu trên sẽ giúp quý khách hàng lựa chọn được phương án thích hợp để giải quyết vấn đề của mình. Còn bất cứ vướng mắc gì quý khách vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 24/7: 1900888 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp và để yêu cầu cung cấp dịch vụ.

Luật Dân an chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý khách hàng và rất mong nhận được ý kiến đóng góp của tất cả quý khách hàng và người dân trên cả nước để chúng tôi hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ của mình.

Trân trọng cảm ơn!

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN DÂN AN

Địa chỉ: lô C34 khu đấu giá Ngô Thì Nhậm, phường Hà cầu, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Email: lawdanan@gmail.com – website: huongdanluat.com

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn qua Tổng đài;

Luật sư tư vấn Sở hữu trí tuệ;

Luật sư tư vấn Dân sự