Quy định về xâm phạm quyền tác giả

Tin liên quan

Tình huống: Ông X là tác giả của tác phẩm kiến trúc “Nhà cổ điển Việt” tác phẩm được gửi chọn tham dự triển lãm tại Việt Nam và đoạt huy chương đồng cùng tiền thưởng. Sau khi đoạt giải, tác phẩm trên đã được công ty Y thi công tại khu triển lãm M với sự đồng ý của ông X. Sau khi khu triển lãm đi vào hoạt động, công ty Y bỏ ra nhiều chi phí để quảng cáo cho khu nhà cổ điển trở thành một điểm tham quan hấp dẫn của du khách. Ông X yêu cầu công ty Y phải trả thù lao quyền tác giả cho ông là 10% doanh số bán vé. Nhưng công ty Y từ chối, vì cho rằng hai bên chưa có thỏa thuận về tiền thù lao. Anh ( chị) cho em hỏi rằng: Hành vi của công ty Y có phải là xâm phạm quyền tác giả không?

Trả lời: 

 Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ của Công ty Hướng Dẫn Luật. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

huongdanluat.com

1. Căn cứ pháp lý:

+ Bộ luật dân sự 2005;

+ Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009;

+ Nghị định Nghị định 100/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan.

2. Nội dung tư vấn:

Xét tác phẩm Nhà cổ điển Việt thuộc loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả: Căn cứ khoản 1 Điều 6 luật sở hữu trí tuệ, điểm i khoản 1 Điều 14 luật sở hữu trí tuệ được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 và Điều 17 Nghị định 100/2006/NĐ-CP thì tác phẩm này thuộc diện tác phẩm kiến trúc (Tác phẩm kiến trúc là bản vẽ thiết kế thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian đã hoặc chưa xây dựng) và đã được thể hiện dưới dạng vật chất nên ông X được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm này.

Xét ông X được xác định là tác giả của tác phẩm Nhà cổ điển Việt. Căn cứ Điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định: “Cá nhân người Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ”.

Xét về thời hạn bảo hộ quyền tác giả: Lại căn cứ điểm b khoản 1 Điều 27 Luật SHTT thì tác phẩm kiến trúc của ông X có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời ông X và 50 năm tiếp theo năm ông X mất. Như vậy quyền tài sản của ông A đối với tác phẩm này vẫn trong thời gian được bảo hộ.

Căn cứ khoản 3 Điều 20 luật SHTT quy định: “Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả”.  Như thế, khi công ty Y khai thác, sử dụng tác phẩm Nhà kiến trúc Việt của ông X, quảng cáo, thu lợi nhuận, phải xin phép và trả thù lao quyền tác giả cho chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đó.

Căn cứ khoản 8 Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ quy định về hành vi xâm phạm quyền tác giả: “Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này” .

Hơn nữa, việc công ty Y sử dụng, khai thác tác phẩm Nhà cổ điển Việt không nằm trong các trường hợp “sử dụng sản phẩm đã được công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” (quy định tại Điều 25 luật SHTT) mà nhằm mục đích thương mại nên công ty Y phải trả thù lao quyền tác giả cho ông X.

Như vậy, công ty Y nêu lý do rằng chưa có thỏa thuận về tiền thù lao cho việc sử dụng tác phẩm nên không trả thù lao cho ông X thì công ty Y đã xâm phạm quyền tác giả và buộc phải trả một khoản thù lao cho tác giả của tác phẩm kiến trúc đó.

Trên đây là nội dung tư vấn Hướng Dẫn Luật đưa ra trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành và thông tin quý khách hàng cung cấp. Nếu còn bất cứ vướng mắc gì xin quý khách vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 24/7: 1900888 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp và để yêu cầu cung cấp dịch vụ.

Bài viết tham khảo:

Luật sư tư vấn qua Tổng đài;

Luật sư tư vấn Sở hữu trí tuệ;

Luật sư tư vấn Dân sự.